Vitamin và khoáng chất là những chất chiếm lượng rất nhỏ trong cơ thể nhưng đóng vai trò quan trọng cho cơ thể và sự tăng trưởng và phát triển của trẻ.
Một số vi chất được khuyến nghị bổ sung cho tất cả các trẻ vì thiếu sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ. Ví dụ vitamin K được tiêm ngay sau sinh để phòng ngừa xuất huyết não, hoặc vitamin D được khuyên dùng cho tất cả các trẻ bú mẹ hoàn toàn suốt 12 tháng đầu đời giúp phòng ngừa bệnh còi xương.
Một số vi chất khác cần được đánh giá kĩ càng hơn để đưa ra quyết định có cần bổ sung cho trẻ hay không, nếu bổ sung thì dùng liều dự phòng hay liều điều trị. Không nên tự ý bổ sung vi chất cho trẻ mà chưa tham khảo ý kiến bác sĩ, nhất là đối với nhóm vi chất chưa có khuyến cáo bổ sung thường quy. Việc tự ý bổ sung mà không tính liều dễ dẫn đến ngộ độc hoặc gặp phải tác dụng ngoại ý của thuốc do quá liều.

Cần làm những gì để xác định được trẻ có cần bổ sung vi chất hay không?
|
2. Cơ thể có tăng nhu cầu sử dụng vi chất không? | 3. Cung cấp vi chất đủ chưa? | 4. Liều bổ sung là bao nhiêu? |
|
|
|
|
1. Có dấu hiệu thiếu hay thừa vi chất không?
HỎI & KHÁM
Dưới đây là một số biểu hiện nghi ngờ thiếu vi chất ở trẻ em, mẹ nên đưa trẻ đi khám khi có những biểu hiện này. Bác sĩ sẽ thăm khám thêm cũng như chỉ định những xét nghiệm cần thiết để xác định chính xác hơn về tình trạng của trẻ.
Biểu hiện thiếu vi chất (ASPEN 2015)1
| Biểu hiện | Nguyên nhân có thể gặp | |
| Da | Da thô, viêm da quanh miệng, quanh hậu hôn. Chậm lành vết thương | Thiếu kẽm |
| Da xanh xao | Thiếu sắt, folate, vitamin B12, Riboflavin | |
| Gai đen | Béo phì, hội chứng chuyển hóa | |
| Móng | Dải ngang màu trắng đục trên nhiều móng (Transverse leukonychia) | Thiếu kẽm, Niacin, Calci, thiếu protein năng lượng |
| Móng mềm (Haplonychia) | Thiếu vitamin A, B6, C, D, Calci | |
| Rãnh ngang trên móng (Beau’s lines) | Thiếu protein năng lượng, bệnh Pellagra (thiếu Niacin) | |
| Môi | Viêm da góc miệng (angular stomatitis) | Thiếu vitamin nhóm B, sắt |
| Lưỡi | Niêm mạc lưỡi viêm teo (atrophic glossitis) | Thiếu sắt, riboflavin, B6, Niacin, B12 |
| Giảm vị giác | Thiếu kẽm | |
| Tóc | Tóc dễ gãy | Thiếu kẽm |
| Rụng tóc | Thiếu Biotin, ngộ độc vitamin A | |
| Răng | Sâu răng | Bú đêm, Thiếu Flo, dùng nhiều nước có đường |
| Xương | Chân vòng kiềng (genu varum), chậm đóng thóp trước, costochondral beading, epiphyseal enlargement, cranial bossing | Thiếu vitamin D, còi xương |
| Cơ | Giật cơ vùng mặt, cổ tay, dấu Chvostek (+) | Thiếu vitamin D kèm hạ Calci |
| Tiêu hóa | Tiêu chảy kéo dài | Thiếu kẽm |
XÉT NGHIỆM
Khi làm xét nghiệm vi chất, cần quan tâm trẻ có đang bị stress chuyển hóa hay không (ví dụ stress, nhiễm trùng, chấn thương). Trong giai đoạn bệnh cấp tính, cơ thể diễn ra sự tái phân bố của vitamin và khoáng chất. Vì vậy, trong giai đoạn này, nếu làm xét nghiệm vi chất, có thể thấy một số vi chất giảm dưới mức thông thường (Sắt, kẽm, Selen, Vitamin A, Vitamin B6, Vitamin C, Vitamin D, Vitamin E) hoặc nồng độ cao hơn bình thường (Đồng), tuy nhiên kết quả này không phản ánh đúng tình trạng vi chất của cơ thể.
Việc định lượng nồng độ giúp phản ánh sự thừa hay thiếu của một số vi chất, tuy nhiên vẫn có những vi chất không đánh giá trực tiếp được bằng xét nghiệm vì cơ thể có cơ chế điều hòa, giúp giữ những vi chất này luôn trong tình trạng ổn định, khi đó, xét nghiệm định lượng vi chất không có giá trị nhiều trong việc kết luận trẻ có thiếu chất hay không.
Một ví dụ điển hình là xét nghiệm định lượng Canxi trong máu (Canxi ion hóa). Theo hiệp hội Nhi khoa Hoa Kỳ, trong cơ thể, Canxi phân bố 99% tại xương, còn 1% còn lại phân bố vào dịch cơ thể, trong đó có máu. Trong máu, Canxi chia làm 2 phần, 50% Canxi gắn với albumin và lượng này không đo trực tiếp được, 50% Canxi còn lại ở dạng ion hóa, đây là dạng đo được, tuy nhiên phần Canxi ion hóa này luôn đạt nồng độ ổn định nhờ hệ cân bằng của cơ thể. Ngay cả trong trường hợp cơ thể không được cung cấp đủ Canxi, các tuyến nội tiết sẽ huy động Canxi từ xương ra ngoài để ổn định nồng độ này, việc huy động có thể gây triệu chứng đau nhức các xương đặc biệt các xương dài ở trẻ đang tuổi phát triển. Do đó định lượng Canxi máu không giúp phản ánh nhiều tổng lượng Canxi trong cơ thể. Nói cách khác, đôi khi trẻ đã có tình trạng thiếu Canxi nhưng xét nghiệm định lượng Canxi ion hóa trong máu ở ngưỡng bình thường.
Vì vậy, điều quan trọng nhất khi đánh giá tình trạng vi chất của cơ thể vẫn là khám và đánh giá chế độ ăn, cũng như các yếu tố nguy cơ thiếu vi chất khác, kết hợp với các xét nghiệm khi cần.
Phần 2 của chuỗi bài viết vi chất bao gồm:
2. Cơ thể có tăng nhu cầu sử dụng vi chất không?
3. Cung cấp vi chất đủ chưa?
4. Liều bổ sung là bao nhiêu?
Để theo dõi tiếp các bước xác định nhu cầu vi chất, các bạn hãy xem phần 2 của bài viết tại đây nhé



![[THIẾU CITRIN] BASQUE BURNT CHEESECAKE](https://tiemsuakhanhbui.com/wp-content/uploads/2025/10/Burnt-Cheesecake-120x86.png)








Hôm nay : 189
Tổng truy cập : 44820
Đang online : 2