Đếm Carbohydrate (Carb) là kỹ năng thiết yếu cho trẻ Đái Tháo Đường Type 1, tuy nhiên tại Việt Nam phương pháp này chưa được phổ biến, nên trẻ và gia đình còn gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm soát đường huyết và bữa ăn của trẻ.
ĐTĐ type 1 khác với type 2 như thế nào?
Đái tháo đường type 1 (ĐTĐ1) thường gặp ở trẻ em hơn là người lớn. Ở bệnh này, tụy của trẻ không tiết đủ insulin cho cơ thể.
Vậy insulin là gì?
Insulin là một hormone do tụy tiết ra, nó giống như một cái chìa khóa, giúp mở cửa tế bào để Glucose đi vào tế bào. Glucose là một loại đường đơn giản, đến từ bữa ăn của chúng ta, hầu hết nó đến từ Carbohydrate (chất đường bột).
Ở trẻ ĐTĐ1, tụy không tiết insulin, vì vậy Glucose không thể đi vào tế bào, và nó ứ lại trong máu (gây tăng đường huyết). Khi đường huyết tăng cao, cơ thể sẽ kiểm soát bằng cách thải nó qua nước tiểu, việc đi tiểu nhiều sẽ làm trẻ khát nước. Ngoài ra, glucose không vào tế bào được, nên không thể tạo năng lượng, cơ thể phải ly giải mỡ và cơ để tạo năng lượng thay thế, vì vậy trẻ có thể sụt cân rất nhiều.
Ở người lớn ĐTĐ type 2, tụy vẫn còn tiết một ít insulin, và nó có thể cải thiện nhờ thuốc viên cũng như điều chỉnh lối sống lành mạnh, kiểm soát tình trạng thừa cân béo phì, và một số trường hợp có sử dụng insulin.
Tuy nhiên ĐTĐ1 ở trẻ em, bắt buộc dùng insulin để kiểm soát lượng đường trong máu vì tụy gần như hoàn toàn không sản xuất đủ insulin. Lượng insulin mà trẻ cần cả ngày sẽ được điều chỉnh bởi bác sĩ chuyên khoa nội tiết. Nhưng mỗi trẻ sẽ ăn mỗi khác nhau, dẫn đến lượng insulin cần thiết cho mỗi cử ăn của mỗi trẻ cũng khác nhau. Vì vậy, để trẻ có thể ăn uống thoải mái, linh hoạt hơn, mẹ và trẻ cần biết cách đếm Carb trong chế độ ăn, từ đó có cơ sở để điều chỉnh lượng insulin mà trẻ cần.
Phương pháp đếm Carb và tính lượng insulin tương ứng với bữa ăn sẽ được hướng dẫn chi tiết bởi Bác sĩ khoa dinh dưỡng hoặc Cử nhân dinh dưỡng thiết kế chế độ ăn cho bé.
Để hỗ trợ cho việc hướng dẫn này, mẹ và trẻ cần phối hợp ghi nhật ký ăn uống để có thể tính hàm lượng Carbohydrate trong loại thực phẩm đã ăn, bằng cách này trẻ cũng sẽ nhận thức rõ hơn về chế độ ăn của mình.

Một số bước mẹ có thể đồng hành cùng trẻ trong quá trình học cách đếm Carb là:
- Có thói quen đọc nhãn thực phẩm: ghi chú lại trong nhật ký để thực hành tính Carb từ nhãn thực phẩm.
- Lập danh sách về các loại thực phẩm giàu Carb mà trẻ thường ăn.
- Sử dụng cân tiểu ly để cân thực phẩm (ghi chú rõ là thực phẩm chín hay sống, vì tỉ lệ Carb có thể khác nhau).
Khi đi khám, nếu có nhu cầu được hướng dẫn cách tính liều insulin tương ứng với cử ăn, hãy chuẩn bị sẵn nhật ký ăn uống đã ghi và liên hệ với bác sĩ dinh dưỡng của con nhé.
| Giờ ăn | Món ăn | Carb (g) | Insulin tương ứng |
| .. | Cơm 150g | .. | .. |
| Dưa hấu 200g | |||
Sau khi tư vấn dinh dưỡng, mẹ sẽ được cung cấp một tỉ lệ để tính liều insulin. Nó gọi là tỉ lệ ICR (insulin/Carbohydrate Ratio). Tỉ lệ này sẽ được tính bởi các chuyên viên dinh dưỡng của con, dựa trên tổng liều insulin cả ngày:
- ICR người lớn = 500 / tổng liều insulin
- ICR trẻ nhỏ = 150, 200, 250/ tổng liều insulin
- ICR trẻ lớn = 300, 350 / tổng liều insulin
Ngoài ra, tỉ lệ này có thể thay đổi khác nhau giữa buổi sáng và buổi chiều. Sau khi nhận được tỉ lệ ICR, mẹ có thể được cung cấp như sau:
- Buổi sáng: 1 đơn vị insulin = 8g carb
- Buổi tối: 1 đơn vị insulin = 12g carb
Vậy mẹ phải làm gì với con số này?
Dựa trên nhật ký ăn uống mà mẹ ghi, mẹ sẽ tính được liều insulin cho từng bữa ăn như sau (mẹ sẽ được hướng dẫn cách tính):
| (Ví dụ) | Món ăn | Carb (g) | Insulin tương ứng |
| Sáng: Tỉ lệ ICR = 1 : 8 | |||
| 9g00 | Cơm 150g | 56g | |
| Dưa hấu 200g | 5.6 | ||
| .. | |||
| Tổng | 61.6g | 7 IU | |
| .. | |||
| Tối: Tỉ lệ ICR = 1 : 12 | |||
| 18g00 | Cơm 250g | 94g | |
| Chuối 250g | 57.5g | ||
| .. | |||
| Tổng | 151.5g | 12 IU | |
| .. | |||
Chế độ ăn tốt cho sức khỏe
Ngoài việc đếm Carb là trọng tâm, trẻ vẫn cần điều chỉnh chế độ ăn tốt cho sức khỏe. Bao gồm:
Carbohydrate
Ưu tiên ăn các nguồn thực phẩm carbohydrate tốt cho sức khỏe như bánh mì và ngũ cốc nguyên hạt, các loại đậu (đậu Hà Lan, đậu và đậu lăng), trái cây, rau và các sản phẩm từ sữa ít béo (béo đối với trẻ em dưới 2 tuổi)
Chất xơ
Với trẻ mắc tiểu đường, ăn đủ lượng chất xơ phù hợp với độ tuổi đặc biệt quan trọng vì giúp quản lý đường huyết ổn định hơn, bảo vệ tim mạch và tăng cường sức khỏe tiêu hóa. Thực phẩm chế biến sẵn thường ít chất xơ hơn, do đó, trẻ nên ăn thực phẩm tươi, chưa qua chế biến. Tăng cường tiêu thụ các loại thực phẩm giàu chất xơ khác nhau cho trẻ như các loại đậu, trái cây, rau củ và ngũ cốc nguyên hạt.
Đối với trẻ từ 2 tuổi, lượng chất xơ khuyến nghị là: Tuổi + 5 (g/ngày). Ví dụ: Trẻ 8 tuổi, cần 8 + 5 = 13g chất xơ mỗi ngày (Lưu ý là 13g chất xơ chứ không phải 13g rau).
Một số cách thực tế để tăng lượng chất xơ trong bữa ăn của trẻ gồm:
- Chọn ngũ cốc ăn sáng loại nguyên hạt, giàu chất xơ.
- Thêm đậu, đỗ, hoặc đậu lăng vào các món ăn nấu chín.
- Ăn rau sống hoặc trái cây tươi như món ăn nhẹ giữa các bữa chính.
Chất béo
Chất béo là nguồn năng lượng và cung cấp các vitamin tan trong chất béo (A, D, E & K).
Cố gắng giảm lượng chất béo bão hòa. Điều này bao gồm các sản phẩm từ sữa nguyên kem, thịt mỡ và đồ ăn nhẹ nhiều chất béo. Thay thế những thứ này bằng chất béo không bão hòa như thịt nạc, cá và các sản phẩm từ sữa ít béo. Nên ăn cá có mỡ vì chúng giàu axit béo n-3. Trẻ em và thanh thiếu niên nên ăn cá béo một hoặc hai lần một tuần như cá hồi, cá thu, cá ngừ tươi, cá mòi. Một khẩu phần cá khoảng 80-120g.
Muối
Trẻ ĐTĐ nên tuân theo khuyến nghị về lượng muối giống như dân số chung. Tức là không cần kiêng muối đặc biệt, nhưng cần tránh ăn mặn quá mức để giảm nguy cơ tăng huyết áp và bệnh tim mạch:
- Trẻ 1 đến 3 tuổi: 1 g/ngày tương đương với 2,5 g muối ăn
- Trẻ từ 4 đến 8 tuổi: 1200 mg/ngày tương đương 3 g muối ăn
- Trẻ trên 9 tuổi: 1500 mg/ngày tương đương với 3,8 g muối ăn
Vậy trẻ ăn bao nhiêu là đủ?
Ứng với từng lứa tuổi, từng cân nặng, trẻ sẽ cần nhu cầu năng lượng khác nhau.
Khi mới được chẩn đoán lần đầu, trẻ ĐTĐ1 thường sụt cân. Sau khi được điều trị, trẻ thường sẽ tăng cân trở lại để bù cho phần cân nặng đã sụt giảm trước đó. Trong khoảng 2–4 tuần đầu, trẻ có thể có cảm giác thèm ăn nhiều hơn bình thường. Việc hướng dẫn khẩu phần ăn hợp lý kết hợp với duy trì hoạt động thể chất thường xuyên sẽ giúp tránh tình trạng tăng cân quá mức.
Từ nhu cầu năng lượng đã ước tính, tỉ lệ các chất đạm đường béo (PFC ratio) cũng được khuyến nghị điều chỉnh trong khoảng: (13-20%) : (30-40%) : (50-60%) với trẻ bình thường, và 25% : 35% : 40% với trẻ thừa cân, béo phì.
Thực tế trẻ có thể ăn ít hơn hoặc nhiều hơn thực đơn được tính (đặc biệt đối với trẻ đang trong giai đoạn tăng trưởng nhanh như dậy thì), vì vậy luôn khuyến khích mẹ cân thức ăn và hướng dẫn trẻ ghi lại nhật ký ăn uống để điều chỉnh insulin phù hợp với từng giai đoạn nhé.
Bài viết được viết ngày 15.09.2025
BS Nguyễn Chơn Minh Hiếu, khoa Dinh Dưỡng, Bệnh viện Nhi Đồng 1.



![[THIẾU CITRIN] BASQUE BURNT CHEESECAKE](https://tiemsuakhanhbui.com/wp-content/uploads/2025/10/Burnt-Cheesecake-120x86.png)








Hôm nay : 188
Tổng truy cập : 44819
Đang online : 1