Phân loại dị ứng sữa bò

Đạm Casein và Whey là gì?
Sữa bò chứa nhiều loại protein khác nhau, nó được phân thành 2 nhóm chính là Casein và Whey. Trong đó:
- Casein bao gồm: 𝞪-casein, 𝞫-casein, 𝞳-casein, chiếm phần lớn đạm trong sữa bò.
- Whey bao gồm: bovine immunoglobulin, lactoferrin, serum albumin, 𝞪-lactalbumin, and 𝞫-lactoglobulin (BLG).
BLG, 𝞪-lactalbumin, và casein thường gây dị ứng nhiều nhất, tuy nhiên một số trẻ vẫn dị ứng với các protein khác. Một trẻ có thể dị ứng cùng lúc nhiều loại protein.
Sự khác nhau giữa đạm Casein và Whey là đạm Whey bị biến tính bởi nhiệt, nó được hòa tan và nhanh chóng hấp thu hơn. Casein nằm trong các phức hợp vi thể của sữa, nó tiếp xúc với hệ thống miễn dịch thông qua các mảng Peyer trong ruột.
DƯĐSB được phân ra khá nhiều loại bệnh, ở đây Khánh chỉ nói về FPIAP, do nó rất thường gặp ở bé dị ứng sữa, khi nào có thời gian Khánh sẽ bổ sung thêm triệu chứng của các bệnh khác trong nhóm bệnh dị ứng sữa nhé. Hiện tại, Khánh có chèn 1 bảng tóm tắt về từng loại bệnh của DƯĐSB, tuy nhiên chưa có thời gian dịch ra, các bạn đọc đỡ nha


Triệu chứng
Nói về FPIAP, nó được viết tắt bởi Food Protein–Induced Allergic Proctocolitis (Viêm ruột do dị ứng thức ăn). Biểu hiện các triệu chứng sau (không nhất thiết phải đầy đủ tất cả triệu chứng):
- Phân có vệt máu, nhầy, có thể có bọt
- Có thể kèm thiếu máu, tăng trưởng kém (thiếu máu biểu hiện ở trẻ đi phân máu kéo dài)
Cần lưu ý rằng không phải bé nào đi phân có máu cũng làm DƯĐSB, triệu chứng này có thể gặp trong các bệnh khác như: lồng ruột nhiễm khuẩn, viêm ruột hoại tử, rối loạn đông máu, hoặc có thể là FPIES (một bệnh khác cũng thuộc nhóm dị ứng thức ăn), rò hậu môn, nhiễm khuẩn…
Triệu chứng của FPIAP xảy ra trong vài tháng đầu đời, trẻ bú mẹ thường bị trễ hơn trẻ bú sữa công thức. Đa số các trẻ có triệu chứng từ tuần tuổi thứ 2 đến thứ 8.

Xét nghiệm chẩn đoán
Một số nơi thường làm xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân (FOBT), tuy nhiên ở trẻ nhũ nhi, xét nghiệm này có tỉ lệ dương tính giả khá cao, nên hiện nay nó không còn được đề nghị nữa. Không có xét nghiệm nào có thể chẩn đoán chính xác dị ứng dạng non-IgE, bao gồm FPIAP. Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán vẫn là giảm triệu chứng khi loại bỏ thức ăn nghi ngờ trong 2 đến 4 tuần, và có triệu chứng khi giới thiệu lại thức ăn đó.
Điều trị
Điều trị DƯĐSB cũng như cách điều trị các loại dị ứng thức ăn khác: Tránh tất cả các thực phẩm từ sữa bò.
Nếu bé bú mẹ hoàn toàn vẫn có triệu chứng, mẹ cần tránh dùng sữa bò luôn, kể cả các sản phẩm có chứa sữa bò đã chế biến kĩ, và các thực phẩm chức năng mà mẹ dùng cũng phải được đọc nhãn kĩ càng.
Nếu mẹ đã kiêng các thực phẩm chứa sữa mẹ bé vẫn dị ứng, mẹ cần kiêng thêm đậu nành và trứng.
Nếu mẹ đã cố gắng kiêng tất cả các thực phẩm có khả năng gây dị ứng rồi mà triệu chứng cũng ko cải thiện, bé nên được bắt đầu sử dụng sữa dành cho bé dị ứng (sữa có gắn nhãn hypoallergenic)
Tiên lượng
Đa số các trẻ uống được sữa bò khi đạt 1 tuổi.
Việc dùng men vi sinh để điều trị FPIAP vẫn còn trong quá trình nghiên cứu, Baldassarre và cộng sự đã nghiên cứu cho ra kết quả rằng ở trẻ dùng sữa thủy phân toàn phần, việc dùng thêm lactobacillus GG gián tiếp dẫn đến hồi phục viêm ruột tốt hơn, do nó làm giảm đáng kể calprotectin trong phân. Ngược lại, một nghiên cứu RCT khác chỉ ra rằng không có sự khác biệt khi dùng lactobacillus GG trên trẻ FPIAP bú mẹ hoàn toàn.



![[THIẾU CITRIN] BASQUE BURNT CHEESECAKE](https://tiemsuakhanhbui.com/wp-content/uploads/2025/10/Burnt-Cheesecake-120x86.png)








Hôm nay : 190
Tổng truy cập : 44821
Đang online : 2